Tài nguyên Thư viện

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu Thư viện

    Gốc > Bản tin, Sự kiện > Tin tức - Sự kiện Giáo dục >

    Dạy và học ở nước Đức mới

    - Lời tòa soạn: Điều gì đã và đang diễn ra trong nền giáo dục của các nước trên thế giới?

    Vào niên học đầu tiên của Tổng thống Obama, chìa khoá "vàng" nào sẽ mở cánh cửa giáo dục, đưa Mỹ trở lại thế thượng phong về kinh tế, khoa học-công nghệ?

    Điều thần kỳ nào đã xảy ra ở "xứ sở hoa hồng" Bulgaria,  đất nước từng bị coi là trì trệ trong cải cách giáo dục ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 khi "gặt" được quả quan trọng là 78% dân số ở tuổi lao động có trình độ học vấn trung - đại học ở vào thời điểm Bulgaria được nhận vào Cộng đồng châu Âu?

    Khi bức tường Berlin sụp đổ, nước Đức mới đã vượt qua những thời điểm khủng hoảng, "mất mùa giáo dục" ra sao? 

    VietNamNet giới thiệu các bài viết về sự vận động của giáo dục các nước từ cộng tác viên Đỗ Lê Huy. Đồng thời, mong nhận được thêm sự cộng tác của bạn đọc về những thay đổi đang diễn ra của nhiều nền giáo dục trên thế giới. Cảm ơn các bạn.

     

    Mô tả ảnh.
    Phát triển đồng đều trong giáo dục vẫn là mục tiêu phải hướng đến.

    Phần 1: Dạy và học ở nước Đức mới

    Một trong những sự kiện chính trị hệ trọng của thế giới trong thế kỷ 20 là sự sụp đổ của bức tường Berlin. Thống nhất nước Đức là một quá trình đa diện, phức hợp, vẫn đang tiếp diễn.

    Nhưng các thành tựu trong nhất thể hoá nước Đức cần quan sát không chỉ về mặt kinh tế, xã hội, hay chính trị, mà phải qua lăng kính giáo dục.

    Một khi giáo dục  - đào tạo là “đồng vốn chính” mà hôm nay nhà nước Đức thống nhất đang đầu tư cho mai sau, mọi kinh nghiệm quý của khoa học sư phạm trong quá khứ không bị quên lãng.

    “Mất mùa” giáo dục

    Trong quá trình thống nhất, hai nước Đức từng có hai chế độ chính trị khác nhau, đã diễn ra sự kết hợp hai nền giáo dục: nền giáo dục thống nhất (chương trình như nhau trên cả hệ thống) của Đông Đức với nền giáo dục đa cấp, đa thành phần của Tây Đức.

     

    Hamburg
    Một góc của Đại học Hamburg - Đức. Nguồn ảnh: Mundusjournalism.com

    Quá trình nhất thể hoá này hầu như đồng nhất với quá trình hội nhập của nước Đức mới vào hệ thống giáo dục của Cộng đồng châu Âu, và của thế giới.

    Trong đó, cấu trúc giáo dục phổ thông của Tây Đức đã hầu như không bị động chạm, còn hệ thống giáo dục ở Đông Đức đã phải trải qua cải tổ triệt để bằng các nỗ lực phi tập trung hoá và đa dạng hoá giáo dục phổ thông.

    Khi các trường của 5 bang mới nhập vào nước Đức được lồng ghép vào mô hình giáo dục Tây Đức niên khoá 1992 – 1993, các sách giáo dục học Đông Đức dường như được đưa vào “sọt rác lịch sử”.

    Nhưng người ta không quên rằng hai nền giáo dục của hai nước Đức từng đứng đầu cả hai khối, nằm ở hai phía của quang phổ chính trị thời chiến tranh lạnh.

    Với một niềm tự hào như thế về lịch sử phát triển giáo dục cổ kim, đã có thể ngủ yên trong nhịp điệu hoành tráng mà dìu dặt của bài hát Wind of change ("Ngọn gió thay đổi", do ban nhạc Scorpions trình bày)… cho tới giao thừa của thiên niên kỷ.

    Theo báo cáo năm 2001 của PISA (Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế), học sinh Đức đứng thứ 21 về đọc, và thứ 20 cả vể toán và khoa học tự nhiên (!) trong bảng xếp hạng gồm 41 nước.

    Những người chỉ trích thường đổ lỗi cho nạn nhập cư, hoặc cho di sản hệ thống giáo dục kiểu Xô viết…

    Báo chí liên tục gióng những hồi chuông báo động, thúc giục Chính phủ xác lập chiến lược giáo dục mới.

    Trên DW – WORLD ngày 20/9/2006, tác giả Helle Jeppesen cho rằng: bỏ mặc cho 2,5 triệu trẻ em sống trong nghèo khó, học vấn kém, nước Đức đang để cho nguồn tài nguyên quan trọng nhất của nó tuột khỏi tay.

    Trong khi phụ huynh than vãn về một “thảm hoạ giáo dục”, các chính khách vẫn quay cuồng tìm hướng cải cách nền giáo dục giàu truyền thống bậc nhất toàn cầu.

    "Tai ách" này đã làm cho các bang của nước Đức mới xiết chặt tay nhau hơn trong hợp tác về giáo dục, cho dù luật giáo dục của từng bang - theo cơ chế tự trị - là khác nhau.

    Trong khi mày mò tìm đường cách tân nền giáo dục, ngoài nỗ lực khắc phục các căn bệnh “kinh niên” của mô hình giáo dục Tây Đức, gần đây đã xuất hiện nhu cầu tái tạo những nét tích cực của giáo dục học CHDC Đức.

    Đông - Tây kết hợp

    Khác biệt về cấu trúc xã hội bộc lộ không chỉ về mặt chính trị hay kinh tế, mà còn tiềm tàng trong hệ thống giáo dục và trong nhà trường nói riêng.

    Hôm nay, khi hai nước Đức đã sáp nhập được gần hai thập kỷ, phát triển đồng đều vẫn là mục tiêu phải hướng đến.

    Trong gần nửa thế kỷ, không chỉ một thế hệ người Đức học tập dưới hai mái trường không những khác biệt về cấu trúc, thời gian đào tạo, môn học, mà còn tương khắc về hệ thống chuẩn mực, hệ thống giá trị, và cả về truyền thống.

    Khiếm khuyết giáo dục Tây Đức - được xem là gây hoạ cho đến ngày nay - là chia giáo dục phổ thông trung học thành ba loại trường, dẫn đến đường vào đại học của nhiều học sinh dường như đã được định đoạt trước tuổi "teen".

    Con em các gia đình thu nhập thấp và thuộc diện nhập cư thường không thể tựu trường tại các trường trung học “xịn” (gymnasium/Grammar School) - nơi có đường dẫn vào cổng trường đại học. Các trường trung học thuộc đẳng cấp thấp của Tây Đức có lúc được ẩn dụ như nơi đào tạo ra đội quân… thất nghiệp.

    Học giả quốc tế và CHLB Đức cho rằng ở Tây Đức đã không có sự chú ý tới những học sinh thuộc tầng lớp dưới, không có chính sách hỗ trợ học sinh năng khiếu, phân luồng học sinh quá sớm, không chú trọng tự đào tạo và bổ túc nghiệp vụ cho giáo viên, không có giao lưu giữa nhà trường và gia đình, sự lệ thuộc giữa đường học vấn và thành phần xuất thân được xem là lớn nhất thế giới, cấu trúc phức tạp, thời gian học phổ thông quá dài (13 năm), giáo dục trẻ em trước khi nhập trường (hệ thống vườn trẻ - mẫu giáo) không phát triển… Giáo dục CHDC Đức không có những yếu điểm này.

    Nhưng trong tiềm thức vẫn ám ảnh những ấn tượng nặng nề, như định hướng thái quá về chính trị - tư tưởng. Một lời nhận xét không tích cực của lãnh đạo FDJ (Đoàn Thanh niên tự do Đông Đức) có thể chặn đường lên đại học của một học sinh khá, nhưng ngỗ nghịch.

    Một số học giả, kể cả Đông Âu, vẫn “cãi” rằng giáo dục phổ thông kiểu Tây Đức thoạt nhìn khá phức tạp vì nhiều tầng nấc, nhiều chủng loại, và hầu như chỉ có học sinh có bằng tốt nghiệp trung học Gymnasium hay ít ra là Gesamtschule "mới hòng vào đại học", nhưng lại không tạo “ngõ cụt” cho thanh niên khi vào đời.

    Vì đâu phải “phi đại học bất thành nhân cách”. Công nhân, kỹ thuật viên lành nghề vẫn là nền móng của nền kinh tế, bất luận theo “chủ nghĩa” nào.

    Trên thực tế, một số bang ở miền Tây đang áp dụng các kinh nghiệm tốt của Đông Đức trước đây, như rút ngắn thời hạn của gymnasium từ 13 năm xuống 12 năm.

    Cách tổ chức vườn trẻ của Đông Đức trước đây đang là kiểu mẫu cho cải tổ hệ thống giáo dục trước nhà trường phổ thông hiện nay ở Đức.

    Nghiên cứu vận dụng cách tổ chức học bán trú (học sinh ở lại trường sau buổi lên lớp giúp cho cha mẹ yên tâm làm cả ngày) của giáo dục CHDC Đức. Để tránh xu thế trường học choán quá nhiều chỗ trong thế giới quan của trẻ, Đức đã tham khảo kinh nghiệm của các nước Phần Lan, Pháp và Thụy Điển về vấn đề học bán trú.

    Việc phân tích, đánh giá các thành tố của nền giáo dục CHDC Đức không chỉ bổ ích cho công tác quản lý giáo dục ở những bang miền Đông Đức, mà còn cung cấp những bài học quý khi điều hành nền giáo dục mang tính đa nguyên, đa cấp, đa hình thái trên toàn nước Đức thống nhất.

    Các vấn nạn hay thành tựu giáo dục không thể xem xét riêng rẽ, tách rời khỏi tiến hoá của xã hội, của thế giới. Thời kỳ nào cũng có những “huyền thoại” và những “niềm hy vọng bị phản bội”.

    Chúng sẽ đến rồi đi, như “bóng câu qua cửa”. Chỉ những gì thu lượm được nhờ tác động qua lại giữa yếu tố con người và cách quản trị (Việt Nam gọi là “cơ chế”) là đọng lại trong truyền thống, và ẩn hiện trong triển vọng.

    Coi trọng các khuôn mẫu của… Đức

    Nhiều nghiên cứu gần đây vẫn cho rằng khiếm khuyết của nền sư phạm CHDC Đức là buộc học sinh phải học đều tất cả các môn (không chia thành các môn bắt buộc hay tự chọn), có biểu hiện bình quân chủ nghĩa, không chú trọng phát triển độc lập tính, không quan tâm đến cá tính, giáo điều, cấu trúc hệ thống đơn điệu, coi nhẹ bản sắc dân tộc và đặc tính địa phương, quan liêu, áp đặt từ trên…

     

    Duc
    Tại một trường đại học của Đức. Nguồn ảnh: Uni-weimar.de

    Nhưng liệu có hời hợt, khi hát lại bài ca, rằng các nhược điểm của nền giáo dục kiểu Đông Đức từng là ưu điểm của trường phái sư phạm Tây Đức, và ngược lại. Để rồi áp dụng mô hình này thì phải loại bỏ mô hình kia?

    Lịch sử cho thấy, tuy chế độ chính trị là khác nhau, nhưng các vấn đề trong giáo dục mà đôi bên gặp phải là giống nhau.

    Cho dù hai nước Đức từng giải quyết những vấn đề này theo các cách khác nhau, ở đâu người Đức cũng đều cố đi tới cùng, hòng gặt hái được những thành tựu, hoặc những bài học sâu sắc, cả về chiến lược giáo dục lẫn khoa học sư phạm.

    Chính phủ Liên bang Tây Đức đã luôn chú trọng tăng cường sự hợp tác giữa các trường đại học với các xí nghiệp công nghiệp.

    Kể từ những năm 50, đã phát triển “hợp tác nghiên cứu”. Các doanh nghiệp, nhất là nhỏ và vừa, kết hợp với các trường và các viện nghiên cứu cùng tìm cách giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.

    Điều quan trọng là không phải chỉ có các kỹ sư, kỹ thuật viên của doanh nghiệp được học (tại chức) ở trường, mà các sinh viên và các nhà khoa học trẻ phải xuống làm việc ở các xí nghiệp.

    Thực tế này trở thành đặc tính của các trường đại học chuyên ngành, nơi cử các giảng viên đi thực tập ở các cơ sở sản xuất là đối tác.

    Các trường đại học xây dựng các trung tâm triển lãm và tư vấn để đại diện doanh nghiệp tìm hiểu các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực then chốt.

    Các nghiên cứu cho biết có tới 80% học sinh ký hợp đồng với công ty họ tới học việc. 20% còn lại có thể bị xem là “không gây ấn tượng” trong tuyển dụng lao động.

    Các doanh nghiệp lớn cũng quan tâm đáng kể tới các công trình khoa học ở trường đại học. Các trường này còn hợp tác mật thiết với các tổ chức nghiên cứu khoa học phi lợi nhuận để trao đổi kiến thức và tương trợ nhau về cơ sở vật chất. 

    Các trường đại học CHDC Đức cũng có truyền thống liên kết chặt chẽ với nền sản xuất. Có thể nói, đây là một đặc thù của dân Đức nói chung.

    Giáo dục hướng nghiệp ở CHDC Đức được coi là ít mang tính quảng canh “nước sông công lính”, như ở các nước thuộc Liên bang Xô viết.

    Các học giả Tây Đức khẳng định đã tồn tại mối liên quan mật thiết giữa trường đại học và trường phổ thông ở CHDC Đức.

    Quan điểm kế thừa cũng thể hiện trong quản trị các trường dạy nghề. Trường dạy nghề kiểu Đông Đức dạy cả lý thuyết và thực hành. Chính phủ Liên bang cố gắng duy trì hệ thống các trường dạy nghề của Đông Đức cũ, tìm cách hoà nhập chúng vào hệ thống đào tạo nghề kiểu Tây Đức. Đó là hệ thống trách nhiệm kép, khi cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp cùng điều hành quá trình huấn luyện.

    Thời gian học tại doanh nghiệp chiếm tới ¾ quỹ thời gian đào tạo. Cơ sở dạy nghề, theo uỷ nhiệm của doanh nghiệp, sẽ cung cấp nền tảng lý thuyết, và mở rộng tầm hiểu biết ngành nghề. Hệ thống đào tạo nghề kiểu Tây Đức được thế giới đánh giá cao.

    "Huyền thoại học sinh Việt Nam" giữa lòng châu Âu

    Một số nghiên cứu ở Đông Âu gần đây cho rằng trường phái sư phạm Đông Đức có những biểu hiện dân chủ hơn.

    Điều này có vẻ được minh chứng khi nghiên cứu “điều kỳ lạ Việt Nam” trong trường phổ thông Đức. Báo DIE ZEIT số ra ngày 22/01/2009 viết:

    "Không một nhóm nhập cư nào ở Đức giàu thành tích học tập như người Việt Nam: Hơn 50% học sinh người Việt vào được trung học loại ưu (gymnasium). Như vậy tỷ lệ trẻ em Việt Nam phấn đấu lấy bằng tốt nghiệp trung học hệ 12 năm nhiều hơn so với trẻ em Đức. So với các em cùng trang lứa đến từ các gia đình Thổ Nhĩ Kỳ hay Italy, thì số học sinh trung học người Việt cao gấp 5 lần… Khoảng 30% số học sinh được chọn cấp học bổng (từ Quỹ hỗ trợ học sinh nhập cư năng khiếu Start-Stiftung) tại miền Đông Đức là người Việt Nam".

    Dường như tác giả Martin Spiewak muốn gây cảm tưởng rằng học sinh Việt Nam đã nhìn thấy ở thày cô người Đức của mình “mẹ của em ở trường”, rằng trường học ở các bang từng thuộc Đông Đức có không gian sư phạm dân chủ, bình đẳng hơn.

    Theo các quan chức phụ trách ngoại kiều, “huyền thoại Việt Nam” đã phản bác quan điểm cho rằng kết quả học tập trung bình của học sinh Đức so với thế giới bị trẻ em nhập cư “kéo xuống”.

    Còn trên TAZ số ra ngày 19/4/2006, tác giả Marina Mai cho rằng các học sinh châu Á học giỏi hơn là do giáo viên ở Đông Đức tận tụy hơn các đồng nghiệp ở các bang phía Tây.

    Các nghiên cứu cũng cho biết các em gái con nhà thu nhập thấp thường học giỏi hơn (vì phải “người lớn” hơn?) các bạn trai cùng tầng lớp, vốn dễ bị khích động cuốn theo những xáo động trong đời sống xã hội mà bỏ học (kể từ “bát tiết” trở đi). Các em trai và gái con nhà trung lưu có sức học ngang nhau.

    Về giáo dục học, cả thực trạng “sút kém lực học trung bình” của học sinh Đức và “huyền thoại học sinh Việt Nam” có thể còn những nguyên do khác.

    Trong một thế giới đang trải qua những biến động mãnh liệt của quá trình toàn cầu hoá, nhà trường và cả nền giáo dục của từng nước đều san sẻ những vận hội, và đều phải phấn đấu, trước hết vượt lên chính mình để khỏi tiến vào… quá khứ.

    Các trẻ em Việt Nam được học trong nhà trường Đức nơi có thể đã kết hợp được sự ưu việt của hai trường phái giáo dục của cả hai khối thuộc về sự đối đầu Đông – Tây “ngày xưa”.

    Theo cuốn sách mới xuất bản ở Mỹ “Intelligence and How to Get It” Tiến sĩ tâm lý học Richard Nisbett, việc được theo học trường tốt làm tăng rõ rệt IQ - chỉ số thông minh - của trẻ. Còn vì sao yếu tố này không ảnh hưởng nhiều đến các trẻ thuộc dân tộc khác, kết quả nghiên cứu của Đức như gợi lại câu “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Con em phụ huynh nghèo nhưng chăm chút cho đường học vấn của con cái theo kiểu Việt Nam (“hy sinh đời bố củng cố đời con”, hay “con hơn cha là nhà có phúc”), thường vì biết ơn cha mẹ mà cắm đầu học.

    Dường như ước vọng của những phụ huynh Việt Nam, mà nhiều người không đọc viết được tiếng Đức, đã trùng với ý chí của các nhà lãnh đạo đất nước này: giáo dục đào tạo phải là nguồn đầu tư chính cho tương lai. Và, những hạt giống cho tiến bộ xã hội đã trổ mầm...

    Cho dù CHLB Đức hiện nay có tới 250 trường đại học, tình trạng quá tải vẫn hiện hữu.

    Bất chấp dân số ngày một giảm sút, số lượng sinh viên Đức ngày càng tăng, chứng tỏ thanh niên ngày càng muốn có học vấn cao.

    Các trường tốt nhất về kinh tế là ở Mannheim, Munich, Cologne. “Đất học” xưa và nay là Bắc Rhine-Westphalia và Bavaria.

    Hiện nước Đức vẫn đứng thứ ba thế giới về số lượng học sinh nước ngoài.

    Những nơi thường được đến du học nhất là Berlin, Frankfurt (Oder), Heidelberg, Frankfurt am Main, Zittau.

    Nguyên nhân của sự “quyến rũ” này có lẽ là do các cơ sở đào tạo của Đức luôn kết hợp được truyền thống giáo dục cổ truyền với thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất.

    Và nước Đức mới - hầu như là duy nhất, vẫn duy trì các dự án nghiên cứu khoa học - khởi phát từ thời kỳ còn khối XHCN, tại các nước châu Á và châu Phi.

    Nguồn: VietNamNet


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Trung Thành @ 11:45 16/09/2009
    Số lượt xem: 486
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến