Tài nguyên Thư viện

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu Thư viện

    Gốc > Bản tin, Sự kiện > Văn hóa, xã hội >

    Những kỷ lục thú vị trong lịch sử World Cup

    Với chu kỳ 4 năm mới tổ chức một lần của VCK World Cup, những kỷ lục của các chiến binh càng trở nên vĩ đại và vô cùng khó lật đổ. Trước khi ngày khai mạc VCK Mondial lần thứ 19 diễn ra, hãy cùng điểm lại những kỷ lục đầy thú vị đó…

    body {background-color: white; font-family: "Verdana"; font-size: x-small;border:1px solid #669933;}

     
     
    Lothar Matthaus là cầu thủ giữ kỷ lục về số trận và số kỳ World Cup đã tham dự.

     

    Với 25 lần tham chiến, tượng đài Lothar Matthaus (Đức) chính là cầu thủ có nhiều trận nhất tại các kỳ World Cup. Đứng ngay sau tiền đạo này là Paolo Maldini (Italia) với 23 trận, Diego Maradona (Argentina), Wladislav Zmuda (Ba Lan), Uwe Seeler (Đức) với 21 trận.

     

    Có vinh dự cùng Xe tăng Đức 5 lần dự World Cup 1982, 86, 90, 94 và 98, chính Lothar Matthaus cũng giữ luôn kỷ lục về số lượng World Cup tham chiến. Cùng chung kỷ lục với anh là “tiền bối” Antonio Carbajal khi cùng Mexico góp mặt tại World Cup 1950, 54, 58, 62 và 66.

     

    Ở cấp ĐTQG, Brazil đang là đội duy nhất cho tới lúc này không vắng mặt tại một VCK World Cup nào. Đứng ngay sau Selecao là Italia, Đức (17 lần góp mặt), Argentina (14 lần) và Mexico (13 lần).

     

    Cầu thủ già nhất tham dự một kỳ World Cup là lão tướng Roger Milla (Cameroon). Tiền đạo này thi đấu trong trận gặp Nga tại USA ’94 khi 42 tuổi và 39 ngày.
     

    Trong khi đó cầu thủ trẻ nhất thi đấu tại World Cup là Norman Whiteside của Bắc Ireland. Tại Espana ’82, anh góp mặt trong trận đấu với Nam Tư (cũ) khi mới 17 tuổi và 41 ngày.

     
    Ferenc Puskas, một trong 6 cầu thủ được chơi 2 ĐTQG tại World Cup.
     

    Với những điều lệ theo hoàn cảnh lịch sử, người hâm mộ được chứng kiến tổng cộng 6 cầu thủ chơi cho 2 ĐT trong lịch sử World Cup. Đó là Luis Monti (Argentina  năm 1930 và Italia 1934), Ferenc Puskas (Hungary  năm 1954 và Tây Ban Nha năm 1962), Jose Santamaria (Uruguay năm 1954 và Tây Ban Nha 1962), Mazola (Brazil năm 1958 và Italia 1962), Robert Prosinecki và Robert Jarni (Nam Tư cũ năm 1990 và Croatia 1998).

     

    Có 2 tuyển thủ có thời gian thi đấu ngắn kỷ lục tại một kỳ World Cup là Khemais Labidi (Tunisia) và Marcelo Trobbiani (Argentina). Cả hai chỉ chơi vẻn vẹn đúng 2 phút tại World Cup 1978 và World Cup 1986.

     

    Cầu thủ dự bị đầu tiên được vào sân được ghi nhận là Anatoli Pusatch vào thay Viktor Serebrjanikov trong trận Liên Xô cũ gặp Mexico năm 1970. Trước đó các cầu thủ dự bị không hề được sử dụng trong 40 năm các kỳ World Cup trước.
     

    Trường hợp thay người nhanh nhất diễn ra ở World Cup 1998 khi Nesta vào thay Bergomi trong trận Italia gặp Áo chỉ sau 4 phút thi đấu. Kỷ lục này cũng được san bằng khi Owen nhường vị trí cho Peter Crouch tại World Cup 2006.

     

    Trọng tài được bắt nhiều trận nhất trong lịch sử World Cup là Joel Quiniou. Ông vua sân cỏ người Pháp này bắt tổng cộng 8 trận tại Mondial 1986, 1990 và 1994. Ông cũng là người giữ kỷ lục bắt nhiều trận nhất tại một VCK World Cup với 4 trận, ngang với Nicolaj Latychev (1962), Jose Ramiz Wright (1990) và Jan Langenus (1930).

     

    Trọng tài Quiniou rút thẻ đỏ trong một trận đấu thuộc World Cup 1986.
     

    Trọng tài trẻ nhất được thổi còi tại một trận World Cup là Francisco Mateuccia (Uruguay) khi bắt trận giữa Nam Tư cũ – Bolivia năm 1930 khi mới 27 tuổi và 62 ngày. Còn ông George Reader đang là trọng tài già nhất khi bắt trận Brazil- Uruguay ở tuổi 53 và 236 ngày.

     

    HLV trẻ nhất dẫn dắt một ĐT tại một kỳ World Cup là Juan Jose Tramutola khi ông cầm Argentina đá với Pháp tại World Cup 1930 khi ông mới 27 tuổi và 267 ngày. Còn HLV già nhất là Gaston Barreau, ông đã 70 tuổi 194 ngày khi cầm ĐT Pháp gặp Mexico năm 1954.

     

    Trong khi đó, HLV đang giữ kỷ lục có số trận cầm quân nhiều nhất tại World Cup là huyền thoại Helmut Schon khi có 25 lần chỉ đạo ĐT Đức tại World Cup 1966, 1972 và 1978.

     

    ĐT có độ tuổi trung bình thấp nhất ra sân thi đấu là đội Nam Tư cũ gặp Brazil tại World Cup 1930. Tuổi đời trung bình của họ khi đó là 21 tuổi và 258 ngày.

     

    Ngược lại, ĐT Đức trong trận gặp Iran năm 1998 được coi là già nhất lịch sử World Cup với tuổi trung bình là 31 tuổi 345 ngày. “Trẻ” hơn một chút là ĐT Bỉ trong trận gặp Mexico năm 1998 với trung bình 31 tuổi và 304 ngày.

     

    Argentina đang là ĐT giữ kỷ lục về thẻ đỏ tại World Cup với tổng cộng 10 thẻ. Đứng ngay sau là Brazil (với 9 thẻ đỏ), Cameroon và Italia (7 thẻ đỏ). Nếu xét riêng một kỳ World Cup thì 3 đội “dữ dằn” nhất là Argentina (năm 1990), Pháp (1998) và Cameroon (1998) khi mỗi đội đều phải nhận 3 thẻ đỏ.
     

    ĐT Argentina đang nắm kỷ lục về số lần nhận thẻ đỏ từ các trọng tài.
     

    Nếu tính thẻ đỏ trong mỗi kỳ World Cup, VCK Mondial 2006 tại Đức giữ kỷ lục về số thẻ đỏ. Tổng cộng đã có 28 thẻ đỏ được các trọng tài rút ra. Ít hơn một chút là World Cup 1998 với 22 thẻ đỏ và Italia ’90 với 16 thẻ đỏ. Đặc biệt tại World Cup 1950 và 1970, trọng tài không sử dụng bất cứ một thẻ đỏ nào.
     

    Còn nếu tính riêng số thẻ đỏ trong một trận thì cuộc đối đầu giữa Bồ Đào Nha và Hà Lan tại World Cup 2006 đang giữ kỷ lục với 4 cầu thủ bị truất quyền thi đấu (Costinha, Boulahrouz, Deco và Van Bronckhorst).

    Cầu thủ nhận thẻ đỏ nhanh nhất trong lịch sử World Cup là Sergio Batista (Uruguay) khi bị đuổi chỉ sau 56 giây thi đấu với Scotland năm 1986. Thẻ vàng nhanh nhất là trường hợp của Sergei Gorlukovic khi trận đấu giữa Nga và Thụy Điển năm 1994 mới diễn ra đúng 1 phút.

     

    Rigobert Song (Cameroon) và Zinedine Zidane (Pháp) là hai cầu thủ duy nhất nhận hơn 1 thẻ đỏ tại các kỳ Mondial. Song nhận thẻ đỏ tại World Cup 1994 và 1998 còn Zidane bị truất quyền thi đấu năm 1998 và 2006.

     

    Cầu thủ đầu tiên bị thẻ đỏ trong lịch sử World Cup là Mario de Las Casas (Peru) năm 1930. Còn thủ thành đầu tiên nhận thẻ đỏ là Gianluca Pagliuca (Italia) tại World Cup 1994.

     

    Argentina là ĐT duy nhất có 2 cầu thủ bị đuổi trong một trận Chung kết World Cup. Năm 1990, Pedro Monzon và Gustavo Dezotti đều bị nhận thẻ đỏ trong trận gặp Tây Đức.

     

    Trọng tài giữ kỷ lục về phân phát thẻ đỏ tại các kỳ World Cup là Arturo Brizio Carter. Vua sân cỏ của Mexico đã truất quyền 7 cầu thủ trong 6 trận tại World Cup 1994 và 1998.

    Đức là ĐT duy nhất toàn thắng ở những loạt 11m cân não. Song thủ môn Goycoechea lại là người cản phá thành công sút luân lưu nhất trong lịch sử. Trong khi đó, Nam Mỹ là khu vực duy nhất có số trận thắng hơn hẳn “phần còn lại” của thế giới.
     

    Trận đấu đầu tiên trong lịch sử World Cup phải phân xử thắng thua trên loạt sút luân lưu là trận Bán kết World Cup 1982 giữa Tây Đức và Pháp. Sau khi hòa 3-3 ở 120 phút thi đấu, Tây Đức đã giành chiến thắng 5-4 ở chấm 11m trước “Gà trống Gaulois” để lọt vào trận Chung kết.

     

    World Cup 1990 và 2006 là hai kỳ Mondial có số trận thi đấu sút phạt luân lưu nhiều nhất (4 trận). Tiếp sau là Mexico ’86 và USA ’94 (3 trận).

     

    “Xe tăng” Đức được ngợi ca bởi tinh thần thép bởi một phần nhờ vào bản lĩnh trên chấm 11m. Họ là đội duy nhất toàn thắng cả 4 trận phải sử dụng loạt sút luân lưu. Argentina đứng thứ hai với 3 thắng và 1 thua. ĐT Anh chính là đội kém may mắn nhất ở chấm 11m khi thua 3/3 trận. Hai đội Mexico và Romania cũng toàn thua ở chấm 11m nhưng mới chỉ dừng ở con số 2 trận.

     

    Bản lĩnh Xe tăng Đức thể hiện rõ trên chấm 11m cân não.
     

    Cũng ở chấm sút luân lưu (không tính các quả phạt đền trong giờ đấu chính thức), Tây Đức là đội ghi được nhiều bàn thắng nhất với 17 lần sút trúng mục tiêu trong khi Thụy Sỹ không thể làm tung lưới đối phương (sút trượt cả 3 quả trong một trận).

     

    Pháp là đội bắt luân lưu kém nhất (16 bàn thua trong 4 trận đá phạt đền) trong khi thủ môn Ukraina đẩy thành công cả 3 quả trong 1 trận phạt đền.

     

    Tổng cộng các kỳ World Cup, các cầu thủ thực hiện 186 quả phạt luân lưu. Nhưng chỉ có 130 lần thành công và đạt tỷ lệ 69,9%. Trong đó, Bỉ và Hàn Quốc sút phạt đền chuẩn nhất (5/5 quả thành công) còn Thụy Sỹ sút dở nhất (0/3 quả thành công).

     

    Thống kê cho thấy, đội nào bốc thăm được đá luân lưu 11m trước, đội đó có đôi chút may mắn hơn. Đã có 11/20 đội đá trước giành chiến thắng (đạt tỷ lệ 55%).

     

    Chỉ có 2 trong 20 trận sút luân lưu phải thực hiện quá 5 lượt đá đầu  tiên. Đó là trận giữa Tây Đức- Pháp (1982) và Thụy Điển-Romania (1994).

     

    Goycoechea, thủ môn cản phá thành công sút 11m nhiều nhất tại World Cup.
     

    Thủ môn Sergio Goycoechea (Argentina) là người cản phá thành công nhiều quả sút luân lưu nhất (5 lần). Người gác đền này cản phá 3 quả tại Tứ kết Italia ’90 trong trận gặp Nam Tư cũ và 2 quả tại bán kết với chủ nhà Italia.

     

    Không có một cầu thủ nào được đá luân lưu (không tính các quả phạt đền trong giờ đấu chính thức) trong 3 kỳ World Cup nhưng có đến 9 cầu thủ được đối đầu ở chấm luân lưu ở 2 VCK. Đó là Pierre Littbarski (Tây Đức ở năm 1982 và 1986), Manuel Amoros (Pháp ở năm 82 và 86), Andreas Brehme (Tây Đức ở năm 86 và 90), Lothar Matthäus (Tây Đức ở năm 86 và 90), Gheorghe Hagi (Romania ở năm 90 và 94), Ion Lupescu (Romania ở năm 90 và 94), Dunga (Brazil ở năm 94 và 98), Branco (Brazil ở năm 86 và 94), Roberto Baggio (Italia ở năm 90 và 94).

     

    Châu Âu đang là khu vực nắm giữ kỷ lục về số trận thi đấu với 383 trận trong khi châu Đại Dương mới có vẻn vẹn 10 trận, ít nhất so với các châu lục khác. Và với 182/383 trận thắng (không tính các trận thắng thua bằng sút luân lưu), châu Âu cũng là khu vực có tỷ lệ thắng cao nhất (47,52%).

     

    Đứng ngay sau là Nam Mỹ với 117/248 trận thắng (tỷ lệ 47,18%). Trong khi đó, với 1/10 trận thắng, châu Đại Dương đạt tỷ lệ thắng thấp nhất (10%) trong khi châu Á đạt tỷ lệ 13,89% (thắng 10/72 trận).

     

    Xét về thành tích bất bại, châu Âu vẫn đạt tỷ lệ tốt nhất với 70,76% (không thua 271/383 trận) còn tỷ lệ này ở Nam Mỹ chỉ là 68,95% (bất bại 171/258 trận). Tỷ lệ bất bại thấp nhất vẫn là ở khu vực châu Đại Dương với 30%.

     

    World Cup luôn là sự cạnh tranh chủ yếu giữa khu vực Nam Mỹ và châu Âu.
     

    Nếu tính riêng cuộc đối đầu giữa các khu vực thì đương nhiên trận chiến giữa Nam Mỹ và châu Âu là căng thẳng nhất. Trong 197 lần đối đầu giữa đại diện của hai khu vực, Nam Mỹ thắng 81 trận, châu Âu thắng 71 và hai bên hòa 45 trận.

     

    Nam Mỹ cũng là khu vực có số trận thắng áp đảo nhất trước “phần còn lại thế giới”. Bên cạnh thắng châu Âu, họ còn giành thắng lợi 11/18 trận trước châu Phi (hòa 4, thua 3), thắng 8/10 trận trước các đại diện châu Á (hòa 2, thua 0), thắng 15/20 trận trước khu vực CONCACAF (hòa 2 thua 3) và thắng 2/3 trận trước châu Đại Dương (hòa 1, thua 0).

     

    Ngoại trừ thua khu vực Nam Mỹ, châu Âu cũng không mấy khó khăn để áp đảo các khu vực khác. Họ thắng châu Phi 32/63 trận (hòa 18, thua 13), thắng châu Á 32/47 trận (hòa 9, thua 6), thắng 42/70 trận trước khu vực CONCACAF (hòa 16, thua 12) và thắng 5/6 trận trước châu Đại Dương (1 hòa và 0 bại).

     

    Ở cuộc đối đầu giữa các châu lục còn lại, châu Á thắng 3/7 trận trước các đại diện châu Phi (hòa 3, thua 1), thắng 1/1 trận trước châu Đại Dương nhưng chỉ thắng 1/7 trận trước khu vực CONCACAF (hòa 1, thua 5). Song cuộc đối đầu giữa châu Phi và CONCACAF, phần thắng nghiêng về châu Phi với 2/3 trận thắng (hòa 1, thua 0).

    Ronaldo là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử World Cup. Trận thắng 10-1 của Hungary trước El Salvador là trận đấu có tỷ số đậm nhất. Trong khi đó, Beckenbauer giành Cúp vàng TG trên cả cương vị HLV trưởng và đội trưởng ĐT Đức.

     

     
    Ronaldo đang giữ kỷ lục về số bàn thắng tại các kỳ World Cup.
     

    Cho tới trước World Cup 2010, Ronaldo đang giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được với 15 lần lập công cho ĐT Brazil tại các kỳ Mondial 1998, 2002 và 2006. Đứng thứ nhì trong danh sách này là Gerd Muller của ĐT Đức (14 bàn).

     

    Nếu tính riêng tại một kỳ World Cup, Just Fontaine (Pháp) là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất (13 bàn) và thành tích này vẫn được giữ nguyên kể từ World Cup 1958. Đứng thứ nhì ở danh sách này là chân sút Sandor Kocsis với 11 bàn ghi cho ĐT Hungary từ World Cup 1954.

     

    Với 5 bàn ghi được trong trận Nga- Cameroon tại USA ’94, Oleg Salenko chính là cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng trong một trận đấu. Pele (Brazil) và Uwe Seeler (Đức) là hai cầu thủ có được bàn thắng tại nhiều kỳ World Cup nhất. Hai ngôi sao này từng sút tung lưới đối phương ở World Cup 1958, 1962, 1966 và 1970.  

     

    Cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong lịch sử World Cup là Lucien Laurent trong trận giữa Pháp và Mexico năm 1930. Và bàn gần đây nhất tại một kỳ World Cup là Marco Materazzi (Italia) ghi được vào lưới ĐT Pháp trong trận Chung kết 2006.
      
    Bàn thắng nhanh nhất được thực hiện là pha lập công của Hakan Sukur chỉ 11 giây sau khi trận đấu giữa Thổ Nhĩ Kỳ - Hàn Quốc bắt đầu. Bàn thắng muộn nhất được thực hiện là pha lập công của Alessandro del Piero ở phút 121 trận Bán kết giữa Italia – Đức năm 2006.

     
    Batistuta - một trong 4 cầu thủ từng lập 2 hat-trick trong lịch sử World Cup.
     

    Hiện tại mới chỉ có 4 cầu thủ lập được 2 hat-trick tại các kỳ World Cup là Sandor Kocsis (năm 1954), Just Fontaine (năm 1958), Gerd Muller (năm 1970) và Gabriel Batistuta (năm 1994 và 1998). Ngoài ra có tới 39 cầu thủ ghi được 1 hat-trick tại World Cup. 

     

    Cú hat-trick nhanh nhất được Laszlo Kiss thực hiện chỉ trong vòng 8 phút (phút 70, 74 và 77) trong trận Hungary – El Salvador năm 1982. Kiss cũng là cầu thủ dự bị duy nhất lập được hat-trick tại một kỳ World Cup.
     

    Cầu thủ đầu tiên ghi được hat-trick trong lịch sử World Cup thuộc về Bert Patenaude ghi trong trận Mỹ gặp Paraguay năm 1930.

     

    Cầu thủ già nhất ghi được bàn thắng là Roger Milla. Huyền thoại của bóng đá Cameroon lập công vào lưới ĐT Nga năm 1994 khi đã 42 tuổi và 39 ngày. Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn chính là huyền thoại Pele khi anh sút tung lưới xứ Wales năm 1958 khi mới 17 tuổi và 239 ngày.

     

    Jairzinho (Brazil) và Alcide Ghiggia (Uruguay) là hai cầu thủ duy nhất ghi được bàn thắng trong tất cả các trận tại một kỳ World Cup. Nếu như Jairzinho ghi bàn liên tục trong 6 trận có mặt ĐT Brazil tại World Cup 1970 thì Ghiggia ghi bàn trong  4 trận của Uruguay tại World Cup 1950.

     

    Ebbe Sand (Đan Mạch) đi vào lịch sử World Cup khi là cầu thủ ghi bàn thắng nhanh nhất từ băng ghế dự bị. Vừa vào sân đúng 16 giây, tiền đạo này kịp làm tung lưới Nigeria góp phần vào chiến thắng 4-1 cho Đan Mạch.

     
    Prosinecki, trường hợp duy nhất ghi bàn tại World Cup trong 2 ĐTQG khác nhau.
     

    Robert Prosinecki là cầu thủ duy nhất ghi bàn cho 2 ĐTQG trong lịch sử World Cup. Năm 1990, anh ghi bàn vào lưới Ảrập Xêút khi khoác áo Nam Tư cũ và đến năm 1998, anh ghi bàn vào lưới Jamaica khi là cầu thủ Croatia.

     

    Pha đốt lưới nhà đầu tiên trong lịch sử World Cup được thực hiện bởi Ernst Lotscher trong trận Thụy Sỹ - Đức năm 1938. Cầu thủ dự bị đầu tiên ghi được bàn thắng là Juan Basaguren lập công trong trận Mexico gặp El Salvador năm 1970.
     

    Chiến thắng đậm đà nhất trong lịch sử World Cup là trận thắng 10-1 của Hungary trước El Salvador năm 1982. Cũng có khoảng cách 9 bàn là trận Hungary 9-0 Hàn Quốc năm 1954 và Nam Tư cũ 9-0 Zaire cũ.

     

    Trận Áo 7-5 Thụy Sỹ (năm 1954) là trận có nhiều bàn thắng nhất trong 1 trận đấu (12 bàn). Có 3 trận tổng cộng 11 bàn và 1 trận có 10 bàn thắng.

     
    Brazil là đội có kỷ lục về chuỗi trận thắng liên tiếp.
     

    Brazil đang giữ kỷ lục về số trận thắng liên tiếp với 11 chiến thắng từ World Cup 2002 tới 2006. Còn Mexico là đội thua liên tiếp nhiều nhất với 9 thất bại từ 1930 tới 1950, 1958. Trong khi đó Bỉ là đội hòa nhiều nhất (5 trận từ 1998-2002).

     

    Brazil cũng là đội giữ kỷ lục về số trận bất bại với 13 trận (thắng 11, hòa 2) từ năm 1958 và 1966. Trong khi Bulgaria giữ kỷ lục 17 trận không biết chiến thắng từ 1964, 1974, 1986 và 1994.
     
    Cầu thủ già nhất giành được Cúp vàng thế giới là Dino Zoff khi đăng quang tại World Cup 1982 khi đã 40 tuổi. Còn Pele là cầu thủ trẻ nhất đoạt Cúp vàng khi mới 17 tuổi ở World Cup 1958.
     
    HLV Bora Milutinovic chính là HLV duy nhất dẫn dắt 5 ĐTQG tại VCK World Cup. Đó là Mexico năm ’86, Costa Rica năm ’90, Mỹ năm ’94, Nigeria ’98 và Trung Quốc năm 2002.
     

    Beckenbauer giành Cúp vàng khi vừa là thủ quân vừa là HLV trưởng ĐT Đức.
     

    Franz Beckenbauer là người duy nhất giành Cúp vàng trên cương vị đội trưởng (năm 1974) và HLV trưởng (năm 1990). Còn người đầu tiên đăng quang ở cả vị trí cầu thủ lẫn HLV trưởng là Mario Zagallo ở năm 1958, 1962 và 1970.

     

    Vittorio Pozzo là HLV duy nhất giành Cúp vàng 2 lần khi đưa Italia đăng quang ở World Cup 1934 và 1938.

     

    USA ’94 chính là kỳ World Cup có lượng khán giả tới sân đông kỷ lục 3.587.538 người. Đây cũng là giải đấu có số lượng trung bình cao nhất: 68.991 CĐV/trận.

     

    Trận đấu đông khán giả nhất trong lịch sử World Cup là trận Chung kết năm 1950 giữa Brazil và Uruguay. Theo con số chính thức từ FIFA, đã có 199.854 CĐV tới SVĐ Maracana để theo dõi.

     

    Trong khi đó, trận đấu ít khán giả nhất là cuộc đối đầu giữa Romania và Peru năm 1930. Chỉ có 300 khán giả tới xem trận này.

     

     

     

    Theo Dân trí

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Trung Thành @ 10:20 11/06/2010
    Số lượt xem: 762
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến