Tài nguyên Thư viện

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Menu Thư viện

    Gốc > Bản tin, Sự kiện > Tin tức - Sự kiện Giáo dục >

    Phó Thủ tướng đối thoại trực tuyến về giáo dục đào tạo "Yêu cầu hội nhập quốc tế rất quyết liệt"

    Điều trăn trở của tôi lúc này là yêu cầu hội nhập quốc tế rất quyết liệt, nếu ngành Giáo dục không có phương pháp vừa đột phá, vừa phát triển theo chiến lược đồng bộ thì chúng ta có thể làm lỡ cơ hội phát triển của đất nước...

    Đó là một trong những băn khoăn của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân trong buổi đối thoại trực tuyến về “Giáo dục Đào tạo Việt Nam trước thềm năm học mới” do chính Phó Thủ tướng chủ trì diễn ra từ  14 giờ đến gần 18 giờ ngày 31-8, qua cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

     

    Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại buổi đối thoại trực tuyến - Ảnh: Việt Dũng

    Tham gia cuộc đối thoại trực tuyến với người dân còn có lãnh đạo các Bộ GD-ĐT, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Văn hóa - Thể thao và du lịch, Bộ Khoa học Công nghệ, Trung ương Đoàn TNCS HCM và Ngân hành Chính sách xã hội VN.

    Ban tổ chức cho biết cuộc đối thoại trực tuyến rộng rãi với nhân dân về giáo dục- đào tạo được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các tầng lớp nhân dân, của đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên về các chủ trương chính sách về giáo dục- đào tạo của Đảng, Nhà nước. 

    Tại buổi đối thoại, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và đại diện các Bộ, ngành đã trả lời về tất cả các vấn đề người dân quan tâm liên quan đến lĩnh vực giáo dục- đào tạo. Trong đó, nội dung buổi đối thoại tập trung vào các chủ đề chính gồm: Năm học mới 2009 - 2010 và vấn đề “Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục”; Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam và đẩy mạnh công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội;  Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; Chăm lo chất lượng đội ngũ nhà giáo và ưu tiên phát triển giáo dục vùng khó khăn, vùng dân tộc ít người và một số vấn đề khác được nhân dân quan tâm.

    Hơn 2500 câu hỏi của nhân dân cả nước cũng như lưu học sinh, người Việt Nam ở nước ngoài đã gửi về tham gia cuộc đối thoại trực tuyến. Hơn 30 câu hỏi về những vấn đề khác nhau đã được trả lời, những câu hỏi còn lại Bộ GD-ĐT sẽ phân thành các nhóm và trả lời lần lượt qua Báo Giáo dục và Thời đại điện tử của Bộ.

    --------------------------

    TTO lược ghi lại nội dung buổi đối thoại trực tuyến:

    Mở đầu buổi đối thoại trực tuyến, phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu

    Thưa các nhà giáo, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên thân mến,

    Thưa đồng bào trong và ngoài nước,

    Nhân ngày kỷ niệm 64 năm Cách mạng tháng Tám, kỷ niệm Quốc khánh 2-9,

    Nhân ngày các em học sinh, sinh viên chuẩn bị bước vào năm học mới,

    Tôi xin có lời chào trân trọng đến toàn thể đồng bào ta đang sống, làm việc ở trong và ngoài nước, gửi lời chúc thân thiết đến các nhà giáo, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước và đang học tập ở nước ngoài.

    Tôi đã nhận được rất nhiều câu hỏi cho buổi đối thoại trực tuyến  hôm nay. Đây là những nguyện vọng chính đáng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc, tinh thần trách nhiệm của nhân dân nói chung đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo quốc gia; là những băn khoăn, mong muốn được hướng dẫn, giải đáp thấu đáo của các nhà giáo, các bậc phụ huynh, các em học sinh và cả kiều bào ta ở nước ngoài về các vấn đề giáo dục- đào tạo hiện nay.

    Chính những câu hỏi cũng gợi ý những nhà quản lý giáo dục, đội ngũ giảng viên phải làm thế nào để hoàn thành tốt hơn nữa sứ nghiệp thiêng liêng mà Đảng và Nhà nước đã giao cho chúng ta.

    Năm học 2009-2010 sắp bắt đầu, năm học được xác định là “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục". Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, tiếp tục triển khai tốt 3 cuộc vận động và phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh.

    Tôi xin được bắt đầu trao đổi ý kiến với đồng bào.

     

    Quang cảnh buổi đối thoại trực tuyến - Ảnh: Việt Dũng

    Chất lượng giáo dục hiện nay chính là vấn đề lớn nhất cần quan tâm

    Kính thưa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT, với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, theo Phó Thủ tướng, chúng ta cần giải quyết khâu nào là then chốt mang tính chất quyết định để nhanh chóng đạt được kết quả tốt nhất. Xin trân trọng cảm ơn. (Độc giả Nguyễn Văn Nam - Nam 54 tuổi - Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự). 

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Hoạt động GD đòi hỏi nhiều yếu tố. Trước tiên, xác định mục tiêu chương trình GD, kế đó là hệ thống sách giáo khoa, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ GD, tiếp theo là lực lượng đội ngũ giáo viên gồm cả quy mô, số lượng và chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó là phương thức tài chính cho giáo dục (Nhà nước tài trợ như thế nào, đóng góp của người dân đến đâu). Điều rất quan trọng là sự quản lý của Nhà nước đối với chất lượng giáo dục.

    Vừa qua, ngành GD đã không ngừng nỗ lực, đạt được những thành tựu rất đáng kể, quy mô, chất lượng đều tăng. Nhưng chất lượng GD hiện nay chính là vấn đề lớn nhất mà người dân và ngành GD quan tâm.

    Xét về phương diện lịch sử, muốn quản lý chất lượng GD chúng ta còn cần dựa vào những chỉ số về chất lượng và giám sát chỉ số đó. Để làm được điều này, chúng ta cần những cơ quan chuyên trách. Đến năm 2004, trong Bộ GD-ĐT chưa có cơ quan chuyên trách về quản lý chất lượng giáo dục. Vì vậy, từ 1975-2004, công tác quản lý chất lượng nói chung tuy được quan tâm nhưng chủ yếu lồng ghép vào các hoạt động của các Vụ thuộc Bộ.

    Trả lời câu hỏi này cần các cơ quan chuyên trách nhưng cơ quan chuyên trách lại không có. Từ 2004 đến nay, chúng ta có Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng và từ 2008 đến nay, 63 tỉnh, thành đã có Phòng khảo thí và đánh giá chất lượng. Đó là một bước chuyển biến trong quản lý chất lượng, đó là coi quản lý chất lượng là nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước trong quản lý GD. Đáp số là chúng ta phải có cơ quan chuyên trách.

    Vấn đề thứ hai, để đảm bảo chất lượng như đã nêu cần chuẩn hóa: Chuẩn hóa về chương trình, chuẩn hóa về sách giáo khoa, chuẩn hóa đội ngũ thầy cô giáo, chuẩn hóa phương tiện đào tạo. Đặc biệt càng ngày chúng ta càng cần chuẩn hóa công tác quản lý. Chính sự hạn chế, yếu kém trong quản lý là khâu tắc nghẽn nặng nề nhất trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Vì thế, nếu nói khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục thì đó chính là đổi mới quản lý Nhà nước đối với hệ thống GD-ĐT. Khâu đổi mới này trước tiên liên quan đến việc phải có quy hoạch và chiến lược GD.

    Gần đây, chúng ta đã có quy hoạch phát triển GD Đại học 2005-2020 được Thủ tướng phê duyệt. Còn chung toàn ngành, chúng ta có Chiến lược giáo dục 2000-2010. Song song với việc đó, cần xây dựng hệ thống các quy chế quản lý giáo dục: Mở trường như thế nào? Quy chế hoạt động của các loại trường? Nhiệm vụ, trách nhiệm của giáo viên? Nhiệm vụ của hiệu trưởng?

    Tiếp theo là phân cấp. Bộ GD-ĐT làm gì, các Sở GD-ĐT làm gì, các trường làm gì? Gần đây là việc chúng ta đã huy động sự tham gia giám sát của học sinh, phụ huynh và đặc biệt là của xã hội vào việc quản lý chất lượng GD. Có thể nói, chọn khâu đột phá chính là đổi mới quản lý Nhà nước đối với chất lượng giáo dục.

    Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ triển khai các biện pháp khác mà ngành GD đang làm như tiếp tục hoàn thiện chương trình sách giáo khoa. Với GD đại học, các địa phương cần ra soát chương trình, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, công bố chuẩn đào tạo của từng trường. Gắn theo đó là công khai hoạt động nhà trường. Từ năm 2009, ngành GD thực hiện 3 công khai tại tất cả các bậc học: Mỗi cơ sở GD phải công khai cam kết chất lượng của mình. Học sinh ở từng bậc học ra có những kỹ năng, kiến thức, hành vi gì, làm được gì, phát triển tiếp như thế nào. Đánh giá chất lượng thực tế có một chỉ tiêu: Các trường Đại học, cao đẳng phải công bố sinh viên của mình sau 1 năm tốt nghiệp có bao nhiêu phần trăm có việc làm, bao nhiêu phần trăm làm đúng nghề.

    Công khai thứ hai là công khai nguồn lực: đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất như thế nào để phục vụ công tác giảng dạy.

    Công khai thức ba là tình hình tài chính ở đơn vị mình.

    Tóm lại, đổi mới quản lý chính là khâu đột phá trong đó bên cạnh giải pháp lâu dài, cần chọn giải pháp trước mắt cho từng thời kỳ.

    Đổi mới phương pháp giảng dạy là trách nhiệm của từng giáo viên, từng cấp quản lý

    * Phó Thủ tướng có thể đánh giá hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học đã tiến hành mấy năm nay không? Xin cho chúng tôi biết chủ trương, biện pháp của Bộ GD-ĐT nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả “dạy tốt học tốt”? Xin cảm ơn! (Độc giả Mai Xuân Quang - Nam 30 tuổi - Giáo viên)

     

    Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân - Ảnh: Việt Dũng

    - Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Giáo dục phổ thông đã tiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa từ năm 2002 theo nghị quyết của Quốc hội và Chỉ thị Thủ tướng Chính phủ. SGK đã đổi mới cách tiếp cận kiến thức tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh phương pháp tự học. Trong quá trình thực hiện, Bộ và các trường đã có nhiều hỗ trợ cho giáo viên như bồi dưỡng giáo viên về nội dung sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường trang thiết bị cho công tác dạy học, đảm bảo cho việc dạy học tiết kiệm thời gian, chỉ đạo đổi mới, kiểm tra đánh giá định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Tuy nhiên, nhìn lại việc đổi mới phương pháp chưa đạt được yêu cầu như mong muốn. Giáo viên còn thiếu điều kiện, động lực đổi mới phương pháp dạy học; việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá có phần chậm hơn.

    Thời gian gần đây Bộ có nhiều giải pháp khắc phục tình trạng này, có nhiều Hội thảo, trao đổi kinh nghiệm. Bộ trưởng cũng chỉ rõ trách nhiệm, hiện nay, việc đổi mới là trách nhiệm của từng giáo viên, trách nhiệm của từng cấp quản lý giáo dục, nhà trường, Bộ, ngành, phòng phải tạo điều kiện, động lực cho giáo viên, tăng cường chỉ đạo kiểm tra đánh giá, giảm ghi nhớ máy móc, buộc học sinh phải có sáng tạo trong học tập.

    Từ năm học tới, Bộ sẽ tổ chức nguồn tư liệu mở trên mạng trong đó có khoa học, văn sử địa địa phương, thế giới trong đó có nguồn câu hỏi bài tập tham khảo kiểm tra đánh giá cho giáo viên, học sinh tham khảo.

    Trong năm học này, Bộ chỉ đạo mỗi giáo viên phải có một đổi mới cụ thể mới cụ thể trong giảng dạy, vận dụng lý thuyết dạy học tiên tiến vào trong dạy học. Sắp tới, Bộ cũng sẽ tập huấn cho giáo viên phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm ứng  dụng, vận dụng lý thuyết trong điều kiện thực tiễn.

    Phải tập trung cho năng lực thật

    * Xin Phó Thủ tướng cho biết kết quả của cuộc vận động “2 không”? Kết quả của thi tốt nghiệp THPT năm học 2008 - 2009 có phản ánh đúng chất lượng dạy và học hiện nay? (Độc giả Phạm Đức Tài - Nam 33 tuổi - làm ruộng)

    - Kì thi 2006-2007, xã hội rất bức xúc trước nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra, như: bắc thang vào ném bài thi hoặc gây mất trật tự an ninh quanh khu vực thi. Khi thí sinh thi xong thì phòng thi trắng tài liệu...

    Trước thực trạng đó, Ban cán sự Đảng của Bộ đã đột phá là nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.

    Chúng tôi có báo cáo với Thủ tướng, Chính phủ và Thủ tướng có Chỉ thị số 33 là ngành GD phải tập trung vào chống bệnh thành tích trong giáo dục.Khi khởi động quá trình này chúng tôi mong muốn cho học sinh hiểu rằng năng lực làm người sẽ tương đương với tấm bằng đó. Phải tập trung cho năng lực thật. Kết quả thi cử không phải là con đường phát triển lâu dài.

    Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 33, tình hình có chuyển biến rõ rệt. Nếu năm 2007 ngành GD mở cuộc thi tốt nghiệp nghiêm túc và tuyên bố chấp nhận kết quả thật thì có 2.560 học sinh vi phạm quy chế thì đến năm 2009 số em bị đình chỉ còn 299 em giảm 88% so với năm 2007. Tỷ lệ giáo viên vi phạm từ 35 xuống còn 3 giáo viên.

    Năm 2008, tỷ lệ bỏ học khoảng 147 ngàn học sinh, sang năm 2009 giảm còn 86 ngàn học sinh, giảm 41%. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2008 là 76%. Sau đó 2009 tăng 83,8% mỗi năm tăng như vậy là thực tế đáng mừng. Chúng ta đã lập lại ý thức kỷ cương trong học tập.

    Kết quả thi cử năm 2009 cơ bản là phản ánh đúng thực chất. Mỗi năm tỷ lệ tốt nghiệp tăng xấp xỉ 10% đến năm 2010 đạt 90%/ 4 năm nỗ lực tối đa để trở thành tỷ lệ tốt nghiệp gần như cũ.

    Vấn đề hỗ trợ về interrnet thì 2 năm vừa qua phối hợp với Viettel chúng ta đã kết nối được các trường PTTH với nhau trên cả nước. Trường PTCS là tỷ lệ 78%. Trường tiểu học đạt tỷ lệ 70%, mầm non 46%.

    * Cháu thấy Bộ Giáo dục chỉ mới đầu tư và đổi mới về CÔNG CỤ GIÁO DỤC (phương pháp dạy và học, cơ sở vật chất, giáo trình - Sách giáo khoa mới,...) mà chưa có định hướng cụ thể về phát triển và đổi mới CON NGƯỜI ĐƯỢC GIÁO DỤC. Thế hệ HS, SV hiện nay bị ảnh hưởng bởi nhận thức và quan niệm cũ và sai lầm về việc đi học, về quan niệm sống, về đất nước được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia. Tư tưởng thui chột, sai lầm thì dù CÔNG CỤ GIÁO DỤC hiện đại nhưng con người vẫn còn lạc hậu. Cháu xin hỏi, Bộ GD-ĐT đã chuẩn bị và đã xác định gì về vấn đề PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI ở Việt Nam một cách sâu rộng tới Học sinh, sinh viên chưa? (Bùi Quang Bình - nam, 21 tuổi - sinh viên)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Câu hỏi này chứng tỏ sinh viên băn khoăn với con đường phát triển của mình, muốn hiểu rõ hơn và làm tốt hơn là điều đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, sự nghiệp của người sinh viên không bắt đầu từ trường Đại học mà từ bậc học phổ thông. Chúng ta đào tạo học sinh phổ thông như thế nào để trang bị cho các em định hướng bước vào trường đại học.

    Vừa qua, ngành GD rất kiên quyết chống bệnh thành tích trong thi cử, chính là để làm các em học sinh hiểu rằng năng lực thực sự bước vào đời mới là vốn quý nhất. Hiện nay xu hướng đang chuyển biến tích cực.

    Bản thân chúng tôi, với tư cách là phụ huynh học sinh, rất lo lắng rằng không biết con em mình sau này có thực sự quyết tâm phát huy và gìn giữ văn hóa dân tộc, sử dụng nó như một lợi thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Hiểu và tôn trọng những hy sinh của các thế hệ đi trước, từ mấy nghìn năm đến 100 năm trở lại đây để có đất nước ngày hôm nay. Vì thế, chúng ta cần chăm lo cho giáo dục toàn diện.

    Lâu nay, chúng ta quyết tâm “Nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” nhưng cần hiểu phát triển giáo dục phổ thông không chỉ nâng cao dân trí mà còn là giáo dục làm người, trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về khoa học-kỹ thuật, kiến thức cơ bản về xã hội, có tình cảm của người Việt Nam, có lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào về thế hệ cha anh. Như vậy, giáo dục năng lực công dân chính là yêu cầu đòi hỏi bây giờ.

    Từ năm học 2009 này, ngành GD đại học đặt yêu cầu phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS HCM phát động cuộc vận động trong toàn quốc ở bậc học đại học: sinh viên không tiêu cực trong thi cử, không tiêu cực trong tốt nghiệp, và các thầy cô giáo không chấp nhận tiêu cực của sinh viên trong giáo dục đại học bởi sự tiêu cực này chính là sự lãng phí tuổi xuân của các em học sinh, lãng phí sự đầu tư của Nhà nước.

    * Cháu rất ủng hộ công tác đào tạo theo nhu cầu xã hội nhưng cháu băn khoăn là căn cứ vào đâu để xác định được nhu cầu của xã hội? Bởi cháu thấy trong kỳ thi đại học vừa rồi có nhiều ngành thí sinh đăng ký dự thi rất ít nhưng chỉ tiêu lại nhiều trong khi có ngành dự đoán nhu cầu nhân lực sẽ tăng nhanh, thí sinh đăng ký thi tuyển đông thì chỉ tiêu rất ít? (Ngô Hiền Chi - Cầu Giấy, Hà Nội)

    - TS. Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp: Về căn cứ để xác định đào tạo theo nhu cầu xã hội, thông thường căn cứ vào các nguồn thông tin, như thông tin về thị trường lao động; qua các khảo sát đánh giá nhu cầu đào tạo; qua các định hướng, chiến lược, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, của địa phương.

    Từ năm 2007, ngành Giáo dục phát động cuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”. Vừa qua, chúng ta đã thành lập 2 trung tâm quốc gia về dự báo và thông tin thị trường lao động và Trung tâm phân tích và dự báo nhu cầu đào tạo làm cơ sở cung cấp thông tin cho các cơ sở đào tạo từ dạy nghề đến trung cấp chuyên nghiệp, rồi đến hệ thống giáo dục đại học để đào tạo theo nhu cầu.

     

    Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển

    * Từ khi ở cương vị Bộ trưởng, Bộ trưởng đã đi khảo sát, thực tế việc quản lý, dạy và học tại các trường chưa? Bộ trưởng có thấy tình hình thực tế tại các trường này có như trong báo cáo của cấp dưới gửi lên không? (Nguyễn Xuân Thiện - Nam 28 tuổi - Giáo viên trung học)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Ở cương vị Bộ trưởng, đối tượng tôi phải quan tâm gồm nhiều cấp. Đề theo sát tình hình địa phương, chúng tôi phân công trong Bộ, mỗi thứ trưởng phụ trách một vùng trong cả nước, gồm khoảng 10-15 tỉnh. Tôi phụ trách miền Tây Nam Bộ gồm 12 tỉnh, cụm 5 thành phố. Mỗi quý 1 lần dự sinh hoạt trao đổi công việc với các giám đốc sở.

    Cấp trường, mỗi lần tới địa phương, chúng tôi thường tìm gặp các thầy cô hiệu trưởng các trưởng tại tỉnh đó, trao đổi khoảng 2 tiếng, nêu hoạt động trong nhà trường, đánh giá chủ trương của Bộ và các vấn đề đặt ra. Đây là việc hết sức bổ ích, giúp nhận thức tiềm năng cũng như yếu kém trong quản lý giáo dục.

    Chúng tôi dành nhiều thời gian nhất cho 2 cấp này. Tuy nhiên, cũng phải tới thị sát tại trường, dự giờ học. Cách đây 2 ngày tôi có đến làm việc tại Bạc Liêu, Cà Mau tìm hiểu thực tế các em đang suy nghĩ về nhà trường, công việc. Tôi chứng kiến lễ trao xe đạp cho học sinh nghèo đi xa, học sinh lớp 7,8, các em rất nhỏ, qua đây mình mới nhận thức tỷ lệ suy dinh dưỡng cả nước trong đó học sinh trên dưới 10%, nhưng có những vùng rất cao. Như vậy, ngoài "3 đủ” do ngành đề ra là tất cả học sinh đi học đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở, thì tôi thấy chúng ta còn phải chống suy dinh dưỡng.

    Khi dự giờ chúng tôi thấy, có thầy giáo dậy môn Giáo dục công dân lớp 7 rất sinh động có những tài liệu cụ thể, sinh động...

    Tuy nhiên, cũng có nơi, giảng viên dạy có đèn chiếu, nhưng hầu như không tạo thời gian đối thoại giữa sinh viên và giáo viên, tài liệu tham khảo còn khá cũ. Thông qua thực tiễn đối với cá nhân tôi ở các cấp như vậy, cơ bản lãnh đạo Bộ và tôi cảm thấy mình nắm được thực tiễn, tôi thấy học thêm được rất nhiều từ thực tiễn.. Nắm được thực tiễn, giúp mình thấy yên tâm hơn trong công việc, qua đó cũng kiểm tra được sự chỉ đạo.

    Qua việc bám sát cơ sở, đi thực tiễn, chúng tôi nhận thấy có việc giống như mình dự kiến, có việc dở nhưng cũng có nhiều việc hay hơn mình cần tiếp thu để hoàn thiện việc chỉ đạo, điều hành.

    * Tôi đang ở Mỹ, xin phép được hỏi, làm cách nào để hợp thức hóa ngành nghề chuyên môn từ nước ngoài về Việt Nam, để có cơ hội phục vụ nhân dân về vấn đề y tế ở các vùng sâu, vùng xa. (Độc giả: Lê Thế Thành)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Trước hết xin cám ơn ông Thành tuy ở xa tổ quốc nhưng ông có nguyện vọng về nước phục vụ nhân dân về y tế, đây là tấm lòng rất đáng trân trọng. Tôi nói nếu như 3,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đều giữ được truyền thống hiếu học và tấm lòng như vậy thì thật đáng quý. Tuy nhiên, việc về  Việt Nam để hành nghề trong ngành y tế vẫn đòi hỏi những chứng chỉ nhất định. Mời Cục khảo thí chất lượng đào tạo chuyên giúp Bộ giám định chất lượng bằng cấp có lời khuyên với anh Thành quanh vấn đề này.

    Chúng tôi sẽ trả lời thêm bằng email để anh Thành rõ hơn.

    "Làm Bộ trưởng, sứ mạng quan trọng là chăm lo cho lớp trẻ Việt Nam"

    * Với cương vị dẫn dắt nền giáo dục Việt Nam, tiêu chí làm việc của Bộ trưởng là gì? (Mạnh Đức - Nam, 37 tuổi)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Tôi mới nhận trách nhiệm Bộ trưởng Bộ GDĐT được hơn 3 năm, vì vậy kinh nghiệm chưa nhiều. Tôi nghĩ, làm Bộ trưởng có sứ mạng quan trọng chăm lo cho lớp trẻ lớp thanh niên của Việt Nam, đây là trọng trách lớn và cũng rất vinh dự vì vậy phải cống hiến hết mình cùng các đồng chí lãnh đạo bộ, và toàn thể ngành giáo dục chung tay gánh vác sự nghiệp lớn này.

    Hiện nay, nước ta bước vào thời  điểm hội nhập cạnh tranh toàn cầu, càng đòi hỏi nguồn nhân lực mạnh. Chúng tôi thấy sứ mạng của ngành càng lớn hơn, chỉ có một quyết tâm lớn, đồng thuận thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cao cả đó.

    Dân tộc Việt Nam có truyền thống vừa đánh giặc mấy nghìn năm đấu tranh và xây dựng đất nước, trong đó có truyền thống hiếu học đây là tài sản vô cùng quý giá của dân tộc Việt Nam, nó không phải là tiền mà là tinh thần, là gia đình hiếu học, là tài trợ của doanh nghiệp, của mọi người dân, ngành giáo dục luôn luôn biết, không khác gì, là tinh thần, là gia đình học,

    Tôi tin rằng, dân tộc Việt Nam đã chiến thắng mọi kẻ thù ngoại xâm thì không có lý gì lại không xây dựng được đất nước văn minh, hiện đại. Một phần quan trọng trong sự nghiệp đó là đóng góp của các thầy cô giáo và các em học sinh.

    * Kính thưa Bộ trưởng, chúng tôi là giáo viên công tác tại một xã thuộc 1 trong 61 huyện nghèo nhất cả nước, nhưng không thuộc diện chương trình 135. Bước vào năm học mới này, Bộ GD-ĐT, Chính phủ có chính sách gì ưu tiên cho giáo viên công tác vùng này hay không? Xin cảm ơn Bộ trưởng! (Quách Văn Chín - Nam 32 tuổi - Giáo viên)

    - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bùi Mạnh Nhị: Xin cám ơn bạn đã đặt câu hỏi nhiều thầy cô giáo ở diện như bạn cũng quan tâm. Theo quy định tại Nghị quyết 30a của Chính phủ, các xã trừ thị trấn thuộc 62 huyện nghèo đều được hưởng chế độ Chính phủ quy định đối với các xã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 giai đoạn 2.

    Nếu giáo viên công tác tại các xã này đều được hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Nghị định 61 cuả Chính phủ. Ngoài ra, đối với các giáo viên mầm non, thôn bản của các xã thuộc tỉnh, địa phương quy định tại Nghị quyết 24,25,26 của Chính phủ còn được tăng mức phụ cấp bằng 50% so mức lương cơ bản.

    Bộ đang hướng dẫn các địa phương thực hiện quá trình này.

    * Xin hỏi Phó Thủ tướng: Ngoài ngân sách trung ương chi cho GD-ĐT được Quốc hội thông qua hàng năm thì ở địa phương ngân sách của tỉnh, huyện, xã có quy định chi cho GD-ĐT không? Vì có nhiều địa phương ngân sách địa phương chi cho GD-ĐT gần bằng 0%, đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn. Vậy có phù hợp với chủ trương giáo dục là quốc sách . Xin cảm ơn! (Trần Văn Hạnh - Trường THCS Dương Đông 1, Phú Quốc, Kiên Giang)

    - Thực ra ngân sách chi cho giáo dục không chỉ có ở Trung ương mà hàng năm khi Quốc hội thông qua đều ghi rất rõ phần chi của địa phương là bao nhiêu và chuyển về cho địa phương. Quốc hội đã quy định rõ về tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục ở địa phương vì vậy không thể không có chuyện không có ngân sách giáo dục của địa phương.

    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ngữ, Vụ trưởng Vụ Kinh tế kế hoạch trả lời rõ thêm: Theo quy định của Quốc hội, Nhà nước dành 20% trong tổng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo.

    Về cơ cấu ngân sách chi cho giáo dục, Thủ tướng Chính phủ hàng năm quyết định phân bổ ngân sách chi cho giáo dục cho các địa phương theo định mức dân số trong độ tuổi từ 0-18 tuổi. Chia theo vùng miền, ở đô thị thấp hơn 2 lần so với  vùng núi cao, sâu, xa, hải đảo.

    Đối với ngân sách chi đào tạo cũng phân bổ theo dân số, độ tuổi, vùng miền. Theo văn bản của Chính phủ về việc chi ngân sách giáo dục và đào tạo và Quyết định số 151 về phân bổ ngân sách Trung ương về địa phương.

    Vì vậy, tỉnh nào cũng có ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo.

    * Tôi nhận thấy chủ đề năm học 2009-2010 thật ngắn gọn và ý nghĩa. Song một thực tế vẫn có những GV chất lượng giảng dạy chưa cao nhưng lương lại cao trong khi đó nhiều giáo viên trẻ được đào tạo bài bản, chất lượng giảng dạy tốt lại không có cơ hội giảng dạy. Sẽ xử lý như thế nào trong tình huống này, thưa Phó Thủ tướng? Cho GV giảng dạy không chất lượng nghỉ dạy thì có "cạn tình" quá không? Là cán bộ quản lí tôi rất băn khoăn về vấn đề này... (Nguyễn Thị Vân - Nữ 37 tuổi - Giáo viên Tiểu học)

    - Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Vinh Hiển: Trong nhiều năm qua, do số lượng trường lớp tăng nhanh, nên số lượng giáo viên cũng tăng theo. Trong đội ngũ giáo viên có những thầy cô trước đây trình độ đào tạo chưa đạt chuẩn nay cần phải chuẩn hóa, các thày cô được đào tạo bổ sung, nên cũng có tình trạng chắp vá trong quá trình đào tạo. Do vậy, chất lượng cũng có phần chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay.

    Tuy nhiên, những giáo viên đó là những người đã có gắn bó với nghề trong nhiều năm, gắn bó với ngành, với giáo viên, với học sinh trong những năm khó khăn. Trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Nhà nước đã có những chế độ, chính sách để giải quyết sao cho có tình, có lý. Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP của Chính phủ đã có hướng dẫn về tinh giản biên chế trong các đơn vị sự nghiệp. Từ năm 2003, Chính phủ đã có Nghị quyết 09/2003/NQ-CP hướng dẫn tinh giản đội ngũ giáo viên trong các trường phổ thông để nâng cao chất lượng đội ngũ.

    Từ năm 2007, đã có Nghị định 32/2007/NĐ-CP để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 09/2003/NQ-CP, ngành Giáo dục-Đào tạo đã vận dụng để giải quyết rất có tình, có lý. Đối với những giáo viên trình độ chưa đạt chuẩn tùy theo điều kiện có thể bố trí cho đi đào tạo bổ sung để đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên cũng có một bộ phận giáo viên tuổi đã cao, sức đã yếu, thời gian phục vụ cho ngành không còn nhiều thì việc đào tạo bổ sung không cần thiết hoặc khó có điều kiện thực hiện thì ngành bố trí cho các giáo viên này những công việc khác, không phải trực tiếp giảng dạy hoặc động viên các giáo viên này nghỉ trước tuổi theo chế độ.

    Nghị quyết 09 và Nghị định 32 đã quy định rõ chế độ cho giáo viên khi nghỉ trước tuổi; có kinh phí bù đắp để không thấp hơn các thày cô vẫn đang tham gia giảng dạy. Việc các thày cô nghỉ trước tuổi cũng là một giải pháp để các thày cô tiếp tục đóng góp cho ngành để nâng cao chất lượng giáo dục.

    Hiện nay cấp tiểu học đã mở rộng cho học sinh học 2 buổi/1ngày, như vậy cần 1,5 giáo viên/1 lớp, trong khi trước đây học 1 buổi/1 ngày thì chỉ cần 1,15 giáo viên/1lớp. Như vậy, sẽ có nhiều cơ hội để tuyển thêm giáo viên mới, chất lượng nâng cao hơn.

    Ngành Giáo dục - Đào tạo cũng có những quy định, hướng dẫn đánh giá tiêu chuẩn giáo viên. Trên cơ sở đó các giáo viên tự đánh giá mình có đạt chuẩn hay không và có tiếp tục cống hiến, phục vụ cho ngành nữa hay không. Mặt khác cũng nhờ vào sự quan tâm, động viên của các cấp quản lý, các đoàn thể và chính sách phù hợp của địa phương hỗ trợ cho giáo viên nghỉ được đảm bảo cuộc sống.

    Khi tôi đến công tác tại địa phương đã trực tiếp tham mưu cho tỉnh giải quyết chế độ, chính sách cho hơn 1.000 giáo viên nghỉ trước tuổi, nhưng không có ai thắc mắc gì, tất cả đều hài lòng, như vậy không thể nói  là “cạn tình” được.

    Tổng kết sau 3 năm thực hiện, theo số liệu trong toàn quốc, có 39 tỉnh thành báo cáo thì có 7.000 giáo viên được đào tạo bổ sung, có hơn 4.000 giáo viên được bố trí nghỉ trước tuổi. 

    " Đánh giá về sự thành bại của các Bộ trường tiền nhiệm: câu hỏi khó..."

    * Thưa Bộ trưởng, tôi là một nhà giáo, nhiệt tâm với sự nghiệp đào tạo, đã có hơn 40 năm làm công tác giảng dạy và tham gia quản lý ở bậc đại học, nay đã nghỉ hưu. Xin được phép hỏi Bộ trưởng một vài vấn đề chung quanh công tác đào tạo, mà hiện nay Bộ rất quan tâm:

    Các vị Bộ trưởng tiền nhiệm đều có những chương trình dự án đổi mới, cải cách giáo dục. Vậy Bộ trưởng đã có những đánh giá sâu sắc về sự thành bại của họ trong quá khứ để xây dựng các dự án hiện nay không? (PGS.TS. GVCC. Trịnh Quang Vinh - Nam 67 tuổi - Giảng viên)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Đây là một câu hỏi khó, chúng tôi trong quá trình làm chiến lược giáo dục, khởi động từ năm 2007, thực ra trong quá trình Ban cán sự đảng Bộ của Bộ bàn về bàn Chất lượng giáo dục 2007 thì cũng phân tích mặt được và những mặt chưa được của ngành giáo dục, lúc đó chúng tôi có rút ra một số bài học như sau:

    Đó là giáo dục và đạo tạo là ngành đặc thù, không ngừng họat động đào tạo để cải tiến chất lượng giáo dục được, vừa phải đổi mới. Khâu đột phá đủ sức giúp ngành giáo dục tập trung giải quyết có kết quả trong thời gian ngắn, kết quả đó sẽ lan tỏa sang lĩnh vực khác. 

    Bên cạnh đó, muốn chuyển biến ngành giáo dục cũng như các lĩnh vực công tác nói chung thì phải nghiên cứu nó chịu sự quy luật nào? Có phải nó chiụ chi phối bởi các quy luật của các công tác sự phạm không? Ví dụ đầu tiên là quy luật quản lý hệ thống. Nếu đúng nó tự phát triển, nếu không đúng thì nó tự không phát triển được.

    * Thưa Bộ trưởng, tôi xin hỏi 2 vấn đề: Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực là như thế nào? Bộ trưởng nghĩ gì khi một số trường ở đồng bằng sông Cửu Long mới xây rất khang trang nhưng không có nhà vệ sinh? (Tran Thanh Thai - ca mau)

    - Ngành GDĐT trong những năm chiến tranh trước đây đã có phong trào  dạy tốt, học tốt. Trong giai đoạn lúc đó và sau này, chúng ta xác định được trách nhiệm học sinh,cũng như các thầy cô giáo, trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với các giai đoạn phát  triển chung. Những năm gần đây, từ thực tiễn ngành GD đã đề xuất triển khai trong 5 năm hiện nay một phong trào xây dựng trường học thân thiện, thực chất vẫn là dậy tốt và học tốt là phải thế nào theo 5 nội dung:

    Thứ nhất là vấn đề môi trường, ở nhà trường là xanh, sạch đẹp và an toàn.

    Thứ 2 là đổi  mới phương pháp giảng dậy, phù hợp với học sinh từng vùng để làm cho việc dạy học có hiệu quả.

    Thứ 3 là bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

    Thứ 4, đưa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, trò chơi dân gian vào nhà trường, làm cho trường chẳng những là nơi để học mà còn vừa học, vừa chơi. Chúng tôi nhận thức, các em học sinh không chỉ là chủ thể giáo dục, mà phù hợp lứa tuổi, các em cũng có thể góp phần làm trách nhiệm nhỏ bé của mình với phát triển đất nước và đặc biệt là vun đắp truyền thống uống  nước nhớ nguồn.

    Thứ 5, vận động  mỗi một trường học trong cả nước nhận chăm sóc và phát huy một di tịch lịch sử, văn hóa của đất nước mình , tại địa phương mình.

    Khi nói đến dậy tốt, học tốt là phải huy động cả xã hội chung tay với ngành GD để xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

    Còn việc bạn hỏi là làm sao xây được nhà vệ sinh, những năm trước chúng ta có kinh phí xây dựng trường và thiết kế đã giao cho địa phương quản lý. Khi tiến hành cuộc vận động trường học thân thiện, học sinh tích cực ngành GD đặt mục tiêu sau 2 năm phải hoàn thành. Sau 1 năm thì đã có 81% số trường có nhà vệ sinh, trong đó ¾ đạt tiêu chuẩn.

    Một điểm mới nữa ngay trong năm đầu tiên ở nhiều nơi, đã đưa được các bài hát dân ca, các điệu  múa truyền thống vào nhà trường, ví dụ các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung nam bộ thì Trung ương Đoàn đã tổ chức cuộc thi các bài hát dân ca của cụm này đạt kết quả tốt. Phong trào tuy còn rất mới mẻ, nhưng sau một năm, đã có sự hưởng ứng rất tích cực của cơ sở đặc biệt của các tổ chức xã hội.

    Biến tiếng Anh thành một thế mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam

    * Kính chào Phó Thủ Tướng và các vị khách mời! Cháu là du học sinh đang học tại Mexico theo học bổng của chính phủ Mexico. Cháu có một câu hỏi là Phó Thủ tướng có kế hoạch gì cho việc dạy và học lịch sử rất trì trệ hiện nay, và việc học ngoại ngữ vì đa số học sinh đều được học tiếng Anh từ cấp I đến hết cấp III mà nhiều bạn còn không nói chuẩn được 1 câu?.Cháu xin chân thành cám ơn! (Nguyễn Thị Trang - Nữ 22 tuổi - sinh viên - Mexico)

    - Ông Nguyễn Hải Châu, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD-ĐT: Trước hết, việc giảng dạy môn lịch sử của chúng ta không quá bi đát. Vừa qua, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo các địa phương, các trường tập trung đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử để vừa đảm bảo tính chính xác vừa làm cho bộ môn trở nên hứng thú với học sinh. Chúng tôi đã tổ chức nhiều hội thảo hướng dẫn cho đội ngũ giáo viên phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học thông qua tổ chức các họat động, tiếp cận các nguồn tư liệu phù hợp với bài dạy, tiết học của mình.

    Thực tế, còn những thày cô giáo chưa nắm sâu chương trình nên chưa mạnh dạn sáng tạo nhiều nên chỉ bám sát sách giáo khoa, khiến học sinh không thấy hứng thú vì tíêt học chỉ toàn sự kiện, con số. Nếu chúng ta thay đổi phương pháp giảng dạy thì sẽ khiến học sinh thấy hứng thú, dễ tiếp cận bài học. Hiện nay, trong kiểm tra đánh giá, chúng tôi yêu cầu phải có những câu hỏi mở để các em suy nghĩ, trình bày những ý kiến, nhận định của mình về những nội dung câu hỏi đặt ra. Dĩ nhiên, thầy cô giáo và các cấp quản lý cần theo sát những tư tưởng đó để kịp thời uốn nắn, không để các em không đi quá xa nội dung, yêu cầu về sự kiện lịch sử đã có trong chương trình môn học.

    Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Năm học vừa qua, ngành GD đã chỉ đạo khoảng 40 tỉnh, thành trong cả nước tổ chức hội thảo tại địa phương về đổi mới việc dạy học các môn Văn, Lịch sử, Địa và Giáo dục công dân. Qua đó, các thầy cô giáo trao đổi cách dạy để làm cho môn học sinh động hơn. Một yếu tố là tăng cường thông tin phục vụ môn Lịch sử không có trong sách giáo khoa, sâu hơn, phong phú hơn. Năm học này, Bộ GD-ĐT yêu cầu các địa phương có di tích lịch sử quốc gia sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa trên mạng cho địa danh đó. Ví dụ, Sở GD-ĐT tỉnh Điện Biên có trách nhiệm xây dựng toàn bộ cơ sở dữ liệu điện tử về Điện Biên và đưa lên mạng để phục vụ môn Lịch sử.

    Về cách dạy, từ năm học này, trong vòng 2 năm, sẽ chấm dứt cơ bản việc dạy theo hình thức đọc-chép. Tinh thần là truyền đạt sự kiện, quá trình, phân tích bài học chứ không phải thuộc lòng. Cách ra đề thi cũng không đòi hỏi thuộc lòng mà hiểu sự kiện, ý nghĩa của sự kiện tại thời điểm đó và đến bây giờ.

    Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ GD-ĐT: Về việc dạy tiếng Anh ở Việt Nam, khoảng 96% học sinh được học tiếng Anh từ THCS đến THPT nhưng đại đa số học sinh, sinh viên hiện vẫn không sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp cũng như học tập. Có ba nguyên nhân chính:

    1. Chương trình không đồng nhất, đứt đoạn, thiếu tính kế thừa và tính nâng cao. Ở bậc học phổ thông, học sinh học nhiều ngoại ngữ khác nhau, khi chuyển cấp nhiều em không được tiếp tục học môn ngoại ngữ phù hợp. Ở bậc học phổ thông, chúng ta có chương trình 7 năm và 3 năm. Trên thực tế, rất nhiều học sinh học chương trình 3 năm, lên đến Đại học, được học thêm 300 tiết nhưng do chất lượng đầu vào không đều nên tất cả các trường Đại học đều yêu cầu học sinh học lại từ đầu.

    2. Nội dung, phương pháp dạy, thi, kiểm tra lạc hậu, sĩ số lớp học thì quá đông và dạy tiếng Anh như một môn học chứ không phải một công cụ giao tiếp đã hạn chế nâng cao khả năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh. Khi dạy như một môn học thì chúng ta quan tâm đến dạy về tiếng Anh tức là đâu là động từ, tính từ, cách chia động từ, so sánh tính từ… nhưng kỹ năng giao tiếp thì hầu như học sinh không sử dụng được.

    3. Đội ngũ giáo viên tiếng Anh nhìn chung chưa bảo đảm về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều giáo viên dạy theo chương trình và phương pháp cũ. Đến thời điểm này, khi chúng tôi kiểm tra ở một số địa phương, nhiều giáo viên trong số này không còn nói tiếng Anh được nữa. Nhiều học sinh, phụ huynh phàn nàn về cách phát âm tiếng Anh của giáo viên Việt Nam khác so với giáo viên nước ngoài. Đây cũng là một vấn đề.

    Trước nhu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, để chủ động đưa nền kinh tế đất nước hội nhập sâu vào tiến trình tòan cầu hóa, Bộ GD-ĐT đã trình và được Thủ tướng phê duyệt Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân 2008-2020. Căn cứ trên đề án này, Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Đề án đã được thành lập và Bộ GD-ĐT đang hoàn chỉnh Đề án dạy và học tiếng Anh là một trong những đề án lớn trong Đề án chung về dạy và học ngoại ngữ để trình Bộ trưởng GD-ĐT phê duyệt vào tháng 9 này.

    Đề án dạy và học tiếng Anh 2020 nhằm mục tiêu đổi mới toàn diện việc dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học tiếng Anh mới ở tất cả các cấp độ, trình độ đào tạo để đến 2020, đại đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp Trung cấp, cao đẳng, đại học và PTTH có đủ năng lực tiếng Anh sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường hội nhập đa văn hóa, biến tiếng Anh thành một thế mạnh của nguồn nhân lực Việt Nam, phục vụ sự nghiệp HĐH-CNH đất nước.

    Để đạt mục tiêu này, Đề án đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể, chủ yếu tập trung vào xây dựng chương trình, giáo trình giảng dạy, vấn đề thi, kiểm tra, đánh giá để chuyển hẳn việc dạy tiếng Anh như một môn học thành dạy một công cụ giao tiếp và phục vụ việc học tập của học sinh. Trong thời gian tới, môn Toán và một số môn học sẽ được dạy bằng tiếng Anh. Đến năm 2013, nhiều trường Đại học sẽ dạy một phần hoặc toàn bộ các chương trình chuyên ngành (quản trị kinh doanh, du lịch, công nghệ thông tin, kế toán, kiểm toán…) sang giảng dạy bằng tiếng Anh. Chúng tôi hy vọng đến năm 2020 sẽ có nhiều chương trình quốc tế ở bậc đại học dạy bằng tiếng Anh cho các chuyên ngành khoa học khác.

    Sở GD-ĐT TP.HCM là một trong những đơn vị đi đầu. Đến nay, trên 95% các lớp tiểu học ở Tp. HCM chuyển sang học 2 buổi/ngày. Nhiều nơi đưa chương trình dạy tiếng Anh từ lớp 1 với 8 tiết/môn. Trong năm học vừa qua, nhiều em học sinh tốt nghiệp PTTH đạt 670 điểm TOEFL, đủ điều kiện đi học nước ngòai ngay.

    Trong năm học này, Sở GD-ĐT Hà Nội cũng đưa chương trình dạy tiếng Anh vào các bậc học phổ thông và dạy tiếng Anh tăng cường ở các lớp khác nhau. Đây là những tín hiệu ban đầu về sự hưởng ứng của các địa phương trên cả nước đối với Chương trình của Bộ. Chúng tôi tin, đến năm 2020, với nỗ lực của Chính phủ, Bộ GD-ĐT, các Sở GD-ĐT, các trường học thì mục tiêu đa số thanh niên Việt Nam sử dụng thành thạo tiếng Anh có thể thực hiện được.

    * Kính thưa Phó Thủ tướng, là một người dân Việt Nam rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của nước nhà, tôi rất ủng hộ Phó Thủ tướng trước những thay đổi gần đây mà chính Phó Thủ tướng đã tạo ra cho ngành giáo dục. Tôi muốn hỏi Phó TT có chính sách gì chấn chỉnh ngay tình trạng lạm thu tiền của các trường tiểu học dưới danh nghĩa Hội Phụ huynh học sinh? (Nguyễn Thị Hương Trà - Nữ 28 tuổi - kinh doanh)

    - Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển: Hiện nay đối với các trường công lập, phần kinh phí chăm lo cho các em học sinh vẫn được Nhà nước đảm bảo cơ  bản là đủ, tuy nhiên trong thực tiễn còn nhiều trường mà xuất phát từ  phụ huynh học sinh muốn con em mình có điều kiện học tập tốt hơn nên Hội phụ huynh học sinh cũng có thể quyên góp, vận động để tăng thêm điều kiện hỗ trợ như đun nước uống cho các em, trang bị thêm quạt, điện, ánh sáng, bảng chống lóa… chuyện này là có trong thực tiễn.

    Tuy nhiên, Bộ giáo dục đào tạo đã có quy định trong Quy chế của Ban đại diện cha mẹ học sinh là Hội cha mẹ học sinh hoạt động trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận, nghĩa  là nếu như ai không thuận thì không phải làm chứ không bắt buộc và cũng quy định trách nhiệm của các nhà trường là nếu như Hội phụ huynh có huy động thì nhà trường phải có trách nhiệm tham gia quản lý nguồn tiền này cho có hiệu quả, tránh lãng phí  và phải thanh toán công khai với Hội phụ huynh học sinh vào những dịp họp phụ huynh như cuối học kỳ, cuối năm học.

    Như vậy phải nói là về quy định thì rõ ràng, tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện thì vẫn có một số nhà trường, thậm chí có một số Ban đại diện cha mẹ học sinh, thì cũng muốn làm cho tiện, nhanh nên cứ ra chỉ tiêu thu góp mà không có thuyết phục, không giải thích, những đối tượng khó khăn thì không miễn thu. Như vậy, chủ trương của Bộ là rõ ràng, còn Hội phụ huynh học sinh phải có trách nhiệm quản  lý việc thu chi, đóng góp cho hiệu quả và đảm bảo tính tự nguyện.

    * Hiện nay thị trường lao động Việt Nam đang xảy ra tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Trên thực tế thì hầu hết các trường nghề đang rất khó tuyển sinh vì lượng học sinh đăng ký rất thấp, nếu tuyển sinh được thì đầu vào chất lượng rất thấp. Xin Phó Thủ tướng cho biết phương hướng giải quyết vấn đề này? Xin cảm ơn! (Nguyễn Sỹ Uẩn - Nam, 31 tuổi - giáo viên)

    - Ông Cao Văn Sâm - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Từ năm 2000 đến nay thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt chú trọng đến cân đối giữa các cấp lao động với nhau.

    Lĩnh vực dạy nghề từ năm 2000 đến nay đã phát triển rất nhanh, từ chỗ đào tạo dưới 1 triệu lao động thì từ năm 2004 đã đào tạo trên 1 triệu lao động. Đặc biệt năm 2007 là 1,4 triệu lao động và năm 2008 là trên 1,5 triệu lao động tăng 7%. Năm 2009 dự kiến đào tạo 1,6 học sinh. Quốc hội giao chỉ tiêu số lao động được đào tạo nghề hàng năm tăng 5,8 %/năm. Xét về góc độ quản lý vĩ mô thì hầu hết các trường dạy nghề đều đảm bảo chỉ tiêu tuyển sinh.

    Trường hợp bạn nêu có thể nằm trong một trong hai vấn đề dưới đây:

    1. Trong cơ chế thị trường nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động có những nghề

    lúc này nhu cầu lớn lúc khác lại thấp. Các cơ sở đào tạo của chúng ta hình thành bộ phận quan hệ thị trường vì thế nên chuyển dịch giữa nghề này sang nghề khác để thích ứng với nhu cầu tất yếu của thị trường.

    2. Có những nghề đòi hỏi người lao động không những phải có kiến thức mà còn có sức khỏe tốt mới có thể đáp ứng được, ví dụ như nghề nghề hàn dưới thành tàu. Cho nên ko phải nghề nào chúng ta cũng dễ tuyển.

    Đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn. Trong quá trình xây dựng phát triển đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với thị trường lao động là cả một khoảng cách.

    Hiện nay Đảng và Nhà nước đang quan tâm chỉ đạo cải thiện không ngừng chất lượng dạy nghề để đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao để xây dựng đất nước.

    * Một ứng viên sau khi đủ điều kiện tối thiểu do Hội đồng chức danh giáo sư (HĐCDGS) nhà nước quy định phải được 2/3 thành viên HĐCDGS cơ sở, 3/4 thành viên HĐCDGS ngành và 2/3 thành viên HĐCDGS nhà nước bỏ phiếu tín nhiệm mới được công nhận chức danh Phó giáo sư. Thành viên HĐCDGS ngành và nhà nước làm sao biết ứng viên là người như thế nào mà bỏ phiếu tín nhiệm? Bộ trưởng có cách gì để cải tiến cách tuyển chọn chức danh này không? (Lê Minh Thanh - Nam 40 tuổi - Giảng viên - PTIT)

    - Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân:  Việc công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư rất có ý nghĩa, khẳng định trình độ, khả năng của các giảng viên đại học ở trình độ cao, trao cho họ quyền được chủ động trong nội dung môn học, quyền được hướng dẫn nghiên cứu sinh, quyền được giữ những trách nhiệm quản lý về khoa học cũng như về đề tài… nên phải lựa chọn rất khách quan. Nội dung hồ sơ được công nhận là đủ tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư gồm những cấu phần chủ yếu sau:

    1. Được đào tạo như thế nào: Phải có bằng Tiến sĩ ở những chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực mình được công nhận. Hội đồng từ cơ sở trở lên phải xem bằng cấp của người được công nhận xem có đúng không.

    2. Kê khai quá trình tham gia đào tạo của mình từ trước đến nay, đặc biệt là số giờ giảng liên tục ở mức nhất định ở từng trình độ đại học. Ví dụ, phải có hướng dẫn nghiên cứu sinh (nếu làm Tiến sĩ), hướng dẫn Thạc sĩ (nếu đăng ký làm Phó Giáo sư). Hội đồng phải xem xét hồ sơ có đúng chất lượng.

    3. Biên soạn SGK, tài liệu tham khảo giảng dạy đại học. Những tài liệu này phải được chấm có hệ số tùy theo chất lượng phù hợp mục tiêu.

    4. Các công trình khoa học được công bố ở trong nước hoặc nước ngoài, có chấm điểm từ 0-2 điểm với


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Trung Thành @ 21:24 31/08/2009
    Số lượt xem: 256
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến